PC Đồng Nai ủng hộ 1 tỷ đồng phòng, chống dịch Covid-19

(PCĐN) – Sáng 6-7, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Đồng Nai tổ chức lễ tiếp nhận ủng hộ quỹ phòng, chống dịch Covid-19. Tham dự buổi lễ có ông Cao Tiến Dũng – Phó bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch UBND tỉnh, ông Cao Văn Quang – Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc tỉnh, đại diện các ban, ngành và các doanh nghiệp, đơn vị trên địa bàn tham gia ủng hộ. 

Công ty TNHH MTV Điện lực Đồng Nai ủng hộ 1 tỷ đồng.

Tại buổi lễ, có 18 doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị đã ủng hộ với tổng cộng trên 13,4 tỷ đồng, 300 ngàn USD và 200 giường carton vào quỹ phòng, chống dịch Covid-19. Trong đó, Công ty TNHH MTV Điện lực Đồng Nai đã tham gia ủng hộ số tiền 1 tỷ đồng.

Đại diện Công ty TNHH MTV Điện lực Đồng Nai, ông Trương Đình Quốc – Phó giám đốc đã trao bảng tượng trưng số tiền ủng hộ trên nhằm chung tay cùng địa phương đẩy lùi dịch bệnh.

Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Tiến Dũng biểu dương tinh thần chung tay phòng, chống dịch của các doanh nghiệp, nhà hảo tâm, mạnh thường quân, các tổ chức tôn giáo, cơ quan, đơn vị đã ủng hộ vào quỹ phòng, chống dịch Covid-19.

Chủ tịch UBND tỉnh mong muốn các doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh sản xuất – kinh doanh; thực hiện tốt nguyên tắc “5K” về phòng dịch trong doanh nghiệp, bảo vệ người lao động và chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện để chích ngừa vaccine cho người lao động. Tỉnh sẽ sử dụng đúng mục đích nguồn quỹ đóng góp để khi được phân bổ vaccine về sẽ thực hiện chích ngừa cho nhân dân và toàn cộng đồng.

* Trước đó, năm 2020, hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn dân tham gia ủng hộ phòng, chống dịch Covid-19” của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đồng Nai, Công ty TNHH MTV Điện lực Đồng Nai đã ủng hộ số tiền 500 triệu đồng.

* Trong năm 2020, Công ty TNHH MTV Điện lực Đồng Nai đã thực hiện giảm giá điện, giảm tiền điện cho khách hàng bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 (02 đợt) với số tiền tổng cộng hơn 635 tỷ đồng.

* Năm 2021, Công ty TNHH MTV Điện lực Đồng Nai đang triển khai thực hiện hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện (đợt 3) cho một số nhóm khách hàng (theo chỉ đạo của Bộ Công thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam). Thời gian hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện trong 7 tháng, từ kỳ hóa đơn tiền điện tháng 6/2021 đến tháng 12/2021.

 

(Theo pcdongnai.vn)

Tổng Giám đốc EVN kiểm tra ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong truyền tải điện

Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Trần Đình Nhân cùng đoàn công tác đã làm việc với Công ty Truyền tải điện 2 (PTC2) về một số ứng dụng chuyển đổi số trong công tác quản lý kỹ thuật.
Trong đợt kiểm tra lần này, đoàn công tác của EVN và Tổng Công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) đã đi hiện trường kiểm tra thực địa việc thao tác ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI của PTC2 trong quản lý kỹ thuật hệ thống truyền tải điện.
Ông Trần Thanh Phong, Giám đốc PTC2 đã báo cáo tóm tắt kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2021 – 2025 mà EVNNPT giao PTC2 thực hiện với 97 mục tiêu, 114 công việc. Theo ông Phong, năm 2021 PTC2 đã được hoàn thành hoàn thành 80/80 công việc liên quan đến chuyển đổi số do EVNNPT giao. Năm 2022, EVNNPT giao chỉ tiêu cho PTC2 hoàn thành 25 công việc, các khối lượng công việc đang được khẩn trương thực hiện để hoàn thành tốt kế hoạch 2022.

EVN kiểm tra tại hiện trường ứng dụng chuyển đổi số trong công tác quản lý kỹ thuật

Ngoài các chỉ tiêu nhiệm vụ được giao PTC2 cũng tự thực hiện bảy nhiệm vụ chuyển đổi số, ưu tiên ứng dụng mạnh mẽ công tác chuyển đổi số như: “Hoàn thiện CSDL, đảm bảo dữ liệu đúng, đầy đủ trên hệ thống PMIS, MDMS, eDOC theo đúng tiến độ đề ra”; “Triển khai phần mềm số hóa công tác quản lý vận hành đường dây”; “Hoàn thành dự án nâng cao độ ổn định mạng WAN lõi của EVNNPT”; “Hoàn thiện lực lượng đảm an toàn thông tin, số hóa hồ sơ quản lý hệ thống thông tin cấp độ 3 trở lên”; “Triển khai giám sát các chỉ số, trạng thái vận hành hệ thống VTCNTT phục vụ HTTT cấp độ 3 trở lên”; “Triển khai văn phòng số D-office”; “100% dữ liệu công tơ được cập nhật MDMS”… Không chỉ vậy trong quá trình điều hành sản xuất, cán bộ, công nhân viên PTC2 đã phát huy tinh thần lao động sáng tạo, năm 2021 PTC2 đã có hai đề tài nghiên cứu khoa học; 31 giải pháp sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được EVNNPT công nhận và áp dụng hiệu quả vào thực tế.

Ông Trần Thanh Phong – Giám đốc PTC2 đã báo cáo quá trình ứng dụng chuyển đổi số của PTC2

Tại hiện trường, ông Phạm Lê Phú, Tổng giám đốc EVNNPT cho biết, để làm tốt công tác quản lý vận hành hệ thống truyền tải điện, EVNNPT đã giao cho PTC2 chủ trì thực hiện đề tài khoa học công nghệ cấp Quốc gia: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống tích hợp giám sát và quản lý mạng lưới truyền tải điện tại các tỉnh miền Trung trên nền tảng công nghệ GIS và IoT” và đề tài “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào hệ thống camera giám sát đường dây”. Sau khi đề án được Tổng công ty nghiệm thu thì sẽ triển khai đồng loạt trong EVNNPT.

Công nhận Phạm Duy Tùng điều khiển thiết bị bay không người lái

Đoàn đã kiểm tra thực tế tại hiện trường việc ứng dụng công nghệ trong giám sát hệ thống truyền tải điện tại vị trí cột 029, đường dây 220kV mạch kép Đà Nẵng – Tam Kỳ – Ngũ Hành Sơn, chứng kiến các kỹ sư thao tác ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác trong phân tích, kiểm tra hình ảnh cũng như sử dụng thiết bị bay tự động kiểm tra và phát hiện các bất thường từ các hình ảnh ghi nhận được trong quá trình kiểm tra thiết bị lưới điện. Việc thực hiện giao, nhận tất cả các công việc trong công tác quản lý vận hành của đội đường dây bằng các phiếu giao việc trên phần mềm. Tổ chức thực hiện công việc và cập nhật trực tiếp kết quả trên phần mềm qua các thiết bị di động. Thống kê, cập nhật tự động các thông tin, số hóa hồ sơ sổ sách quản lý, các quy trình nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lý vận hành đường dây truyền tải điện.

Lãnh đạo EVN, EVNNPT theo dõi kết quả dự liệu thu thập sau khi thiết bị bay kiểm tra đường dây

Ông Trần Đình Nhân, Tổng giám đốc EVN đã đánh giá cao, ấn tượng với các kết quả chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ mà EVNNPT nói chung và PTC2 nói riêng đã đạt được trong thời gian qua, đây là bước tiến lớn đối với EVNNPT. Trong đó, việc nghiên cứu ứng dụng AI trong sản xuất cần sớm được áp dụng rộng rãi vì đây là nền tảng quan trọng, góp phần thay đổi cơ bản công tác quản lý kỹ thuật sẽ giúp cho EVNNPT, PTC2 bảo vận hành an toàn hệ thống truyền tải điện, nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu rủi ro cho công nhân vận hành. Để đáp ứng mục tiêu cơ bản hoàn thành công tác chuyển đổi số của EVN nói chung và các đơn vị nói riêng.

Ông Trần Đình Nhân – TGĐ EVN chỉ đạo tại hiện trường

“Trong thời gian tới EVNNPT cần tạo điều kiện thuận lợi, giải quyết nhanh, quan tâm đáp ứng các vấn đề PTC2 đã đề xuất để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả trong công tác chuyển đổi số. Chúc ban lãnh đạo và tập thể người lao động PTC2 tiếp tục phát huy tinh thần lao động sáng tạo, nhiệt huyết, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ EVN, EVNNPT giao năm 2022”, ông Trần Đình Nhân nhấn mạnh.

(Theo Tienphong.vn)

Chuyển đổi số tại EVN: Khi nhà cung cấp dịch vụ làm lợi cho khách hàng

Đủ hình thức chuyển đổi, từ công nghệ cho đến tư duy, cách tiếp cận dịch vụ, đã tạo nên những vị thế và dấu ấn mới cho các đơn vị thuộc Tổng công ty Điện lực Đà Nẵng (EVNCPC) khi dịch vụ điện trở thành một trong những lĩnh vực tạo được thuận lợi, tối giản nhất thủ tục hành chính cho người dân trong các loại hình dịch vụ.

Cái gì có lợi cho khách hàng là làm

Anh Trần Hữu Hiền, khách hàng của Công ty Điện lực Đà Nẵng tại quận Hải Châu cho biết, nếu so với cách đây chỉ 5-6 năm, ngành điện đến nay đã lột xác hoàn toàn. Trước đây thủ tục cấp điện rất nhiêu khê, phải đi lại nhiều. Nhưng giờ, khách hàng của ngành điện thật sự là những “Thượng Đế’ đúng nghĩa.

“Gần trưa tôi vào app đăng ký thủ tục mua điện cho căn nhà mới xây. Chưa đầy 15 phút sau đã có nhân viên của Điện lực gọi điện xác minh thông tin đồng thời thông báo quy trình cũng như một số giấy tờ cần chuẩn bị. Ngay ngày hôm sau đã có nhân viên đã đến lắp công tơ và ký hợp đồng mua bán điện. Tất cả diễn ra nhanh đến mức kinh ngạc vì trước đó tôi vẫn nghĩ sẽ phải mất nhiều thời gian chờ đợi để duyệt hồ sơ. Các lĩnh vực khác của thành phố mà cũng được như vậy thì người dân rất mừng”, anh Hiền chia sẻ.

Với việc ứng dụng công nghệ, giờ khách hàng của EVNCPC sẽ được ngành điện giám sát hộ và cảnh báo kịp thời các dấu hiệu bất thường trong sử dụng điện

Không chỉ chuẩn chỉ trong công việc, nhanh chóng trong giải quyết hồ sơ khách hàng, điều ấn tượng với anh Hiền chính là sau khi hoàn tất cấp điện mới, Trung tâm chăm sóc khách hàng của Công ty Điện lực đã gọi điện cho anh để xin đánh giá khảo sát chất lượng dịch vụ cũng như ghi nhận góp ý của khách hàng. “Nhân viên ngành điện sau khi lắp đặt, hoàn thiện thủ tục còn hướng dẫn tôi cách cài app theo dõi sử dụng điện và chia sẻ cả các chiêu tiết kiệm điện trong gia đình. Thật sự tôi rất bất ngờ, không nghĩ có ngành dịch vụ ở Việt Nam có sự thay đổi nhanh chóng, chuyên nghiệp như ở nước ngoài như vậy”, anh Hiền nói.

Chuyển đổi số giúp thay đổi thế nào, tác dụng ra sao với doanh nghiệp và người dân, với ông Bùi Quốc Huy, Phó Giám đốc Kinh doanh Công ty TNHH MTV Điện lực Đà Nẵng chỉ cần đơn giản nhìn vào các số liệu dữ liệu đo đếm mức hiệu quả, năng suất lao động cũng như độ hài lòng của người dân, khách hàng ngành điện.

Theo ông Huy, Điện lực Đà Nẵng giờ tự tin là một trong những đơn vị sáng nhất của ngành điện khi đạt nhiều chỉ số chuyển đổi cao nhất. Một trong những điều tự tin làm tốt nhất trong chuyển đổi số của Điện lực Đà Nẵng nhưng ít được ‘người trong nhà’ khoe chính là Đà Nẵng là thành phố đầu tiên làm tự động hoá hệ thống lưới điện phân phối (lưới điện thông minh) ở Việt Nam.

“Một trong những khó khăn trong chuyển đổi số trước đây chính là nhiều người lao động chưa quen với các quy trình mới, thậm chí cả việc sử dụng các thiết bị, hạ tầng thông minh. Nay mọi việc đã được giải quyết nhờ quyết tâm chuyển đổi, đào tạo quyết liệt của ngành điện. Như cán bộ kho cũng được cấp chứng thư số nên việc giải quyết giấy tờ đơn giản rất nhiều. Khách hàng trước hay nói chỉ dùng điện thoại cục gạch nên không cài được app hay dùng zalo. Giờ mọi chuyện cũng đã khác nhiều. Tương tác giữa doanh nghiệp và khách hàng gần gũi hơn. Cũng nhờ chuyển đổi số, khách hàng ngành điện giờ tiết kiệm được rất nhiều thời gian đi lại, thủ tục cũng đơn giản hơn rất nhiều. Chúng tôi quan niệm chuyển đổi số là việc mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và khách hàng và chúng tôi cứ thế mạnh dạn làm”, ông Huy tâm sự.

Khi công nghệ giúp khách hàng tiết kiệm chi phí

Là đơn vị đang quản lý tới 46 triệu khách hàng sử dụng điện, ông Ngô Tấn Cư, Tổng Giám đốc Tổng công ty điện lực miền Trung (EVNCPC) cho rằng, nói ngắn gọn, chuyển đổi số chính là chuyển đổi tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị đưa lên môi trường mạng. Nhưng để đánh giá chuyển đổi số thành công hay không, trước hết phải lấy khách hàng làm trung tâm và khi đưa vào thực tiễn cả hai bên cùng được hưởng lợi từ những dịch vụ tiện ích ngày càng đơn giản, thuận tiện và hữu ích cho người dùng, nâng cao hiệu quả hoạt động, vận hành cho doanh nghiệp. Và quan trọng nhất, chuyển đổi số phải win – win, “không phải là để trang trí”.

Theo ông Cư, từ những tiêu chí trên, tổng công ty xác định rõ, muốn làm việc năng suất hơn, phải dùng công nghệ thông minh. Vì vậy EVNCPC đã đặt ra 5 nhiệm vụ để thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực nhận thức và có tới 54 nhiệm vụ chuyển đổi số phải thực hiện trong giai đoạn 2021-2022. Khi mới đặt ra đầu việc đa phần cũng rất hoài nghi không rõ sẽ đi đâu về đâu. Nhưng cùng với thời gian, việc ứng dụng công nghệ mạnh mẽ trong sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ cho khách hàng đã chứng minh tính ưu việt, hiệu quả rõ rệt. Các kênh giao tiếp số, dịch vụ khách hàng thực hiện qua app đã góp phần không nhỏ trong nâng cao công tác quản lý thông tin và chăm sóc khách hàng, rút ngắn thời gian xử lý yêu cầu của khách hàng, thời gian cấp điện rút ngắn còn 1,8 ngày.

Đến giờ khách hàng của EVNCPC có thể theo dõi tình hình sử dụng điện hàng ngày, hàng giờ, theo dõi được tiến độ xử lý các yêu cầu dịch vụ điện và được cảnh báo khi có “bất thường” trong sử dụng điện. Thông qua các ứng dụng công nghệ, EVNCPC đã phát hiện sớm được 514.551 trường hợp sản lượng tăng/giảm bất thường, 1.036 trường hợp hệ thống điện của khách hàng bị chạm chập và hỗ trợ xử lý trước khi sự cố đáng tiếc xảy ra. Các kênh giao tiếp số, đưa hệ thống chatbot, tổng đài trả lời tự động, thực hiện cung cấp dịch vụ cấp điện qua app… đã góp phần không nhỏ trong nâng cao công tác quản lý thông tin và chăm sóc khách hàng, giúp rút ngắn thời gian xử lý yêu cầu của khách hàng, thời gian tiếp cận điện năng rút ngắn còn 1,78 ngày.

“Với công tơ điện tử, khách hàng và đơn vị cung cấp điện cũng biết được nguyên nhân tiền điện tăng cao bất thường. Qua các dữ liệu thu thập hàng giờ, chúng tôi đều có cảnh báo sớm cho khách hàng, cho nhân viên xuống kiểm tra giúp khách hàng xem có thiết bị nào bất thường. Thậm chí, qua ứng dụng cũng phát hiện được thiết bị, điều hoà của khách hàng vẫn hoạt động trong quá trình nhà đi vắng. Còn như ở Đà Nẵng, trong vòng 10 ngày thấy khách hàng dùng điện cao hơn 30% là điện lực gửi một tin nhắn cảnh báo để khách hàng biết”, ông Cư chia sẻ.

(Theo Tienphong.vn)

Quy hoạch điện VIII vẫn phải rà soát điện mặt trời, khí LNG

Bộ Công Thương được yêu cầu tiếp tục rà soát, làm rõ số liệu dự án điện mặt trời, cũng như tính khả thi phát triển nguồn điện khí LNG đến năm 2030.

Bộ Công Thương vừa được Chính phủ yêu cầu rà soát, giải trình thêm một số vấn đề liên quan phát triển điện mặt trời, điện khí LNG. Yêu cầu này được đưa ra sau khi Hội đồng thẩm định thông qua Quy hoạch điện VIII hồi cuối tháng 4.

Theo đó, Bộ Công Thương sẽ phải tiếp tục làm rõ thêm số liệu các dự án điện mặt trời đã đầu tư nhưng chưa vận hành; đã giao đất, giải phóng mặt bằng, thi công xây dựng. Từ đó, đánh giá tác động cụ thể và đề xuất giải pháp.

Bộ này cần làm rõ thêm tính khả thi, hiệu quả trong phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng (thủy điện tích năng, pin lưu trữ…) với nguồn điện mặt trời trong các kỳ quy hoạch, nhất là đến năm 2030.

Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, đến cuối năm 2020 có 175 dự án điện mặt trời với tổng công suất đặt 14.891 MW đã được bổ sung Quy hoạch điện VII điều chỉnh. Trong đó, 58 dự án do Thủ tướng quyết định bổ sung, tổng công suất đặt gần 10.700 MW; Bộ Công Thương phê duyệt bổ sung quy hoạch 117 dự án, tổng công suất trên 4.220 MW.

Hiện còn 41 dự án điện mặt trời, tổng công suất trên 6.000 MW đã được bổ sung quy hoạch nhưng chưa vận hành. Các dự án này tập trung chủ yếu tại miền Trung, Nam, riêng miền Bắc chỉ có 3 dự án. Trong số các dự án này, chỉ có 15 dự án có chủ trương đầu tư…

Bộ Công Thương cũng được đề nghị làm rõ số liệu quy hoạch, tính khả thi và hiệu quả của phát triển điện khí LNG đến 2030.

Theo đó, những khó khăn, vướng mắc trong triển khai một số dự án nguồn điện khí,… cần có đánh giá chi tiết hơn.

Việc này đặt ra trong bối cảnh có thể xảy ra những vấn đề địa chính trị, địa kinh tế trên thế giới, dẫn đến khả năng thiếu hụt nguồn khí hoặc giá khí LNG tăng rất cao.

Theo tờ trình dự thảo quy hoạch điện VIII ngày 29/4 của Bộ Công Thương (sau khi được Hội đồng thẩm định quốc gia phê duyệt dự thảo quy hoạch), ở kịch bản phụ tải cao điều hành, năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện đạt gần 146.000 MW (không tính điện mặt trời mái nhà, các nguồn đồng phát). Trong đó, điện than đạt 37.467 MW (chiếm gần 26%) vào năm 2030, và giữ nguyên đến 2045 (9,7% cơ cấu nguồn điện).

Nguồn điện LNG đạt 23.900 MW (16,4% cơ cấu nguồn điện) vào năm 2030 và tăng gấp 1,3 lần, lên 31.400 MW vào 2035. Mức này sẽ giữ nguyên đến năm 2045.

Cơ quan soạn thảo đánh giá, kịch bản phụ tải cao phục vụ điều hành khuyến khích phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo, đáp ứng cam kết của Việt Nam tại COP26 về giảm phát thải ròng về 0.

Kịch bản này sẽ tăng thêm khoảng 15% công suất dự phòng trong 10 năm tới, khoảng 11.200 MW. Nguồn điện LNG góp khoảng 50% (6.000 MW), còn lại là điện gió trên bờ, gần bờ và điện gió ngoài khơi. Lượng công suất tăng thêm này giúp dự phòng, đảm bảo an ninh cung cấp điện trong trường hợp các dự án nhiệt điện than BOT không thể vận hành.

Với kịch bản này, Bộ Công Thương đánh giá truyền tải điện từ miền Trung ra Bắc (liên miền) sẽ tăng dần từ sau năm 2025 trở đi với sản lượng truyền tải tăng 19,5 tỷ kWh vào 2030 lên hơn 21 tỷ kWh vào 2035 và đạt 57 tỷ kWh vào 2045.

Như vậy đến năm 2030, 4 mạch đường dây 500 kV hiện có liên kết liên miền Trung – Bắc vẫn đảm bảo khả năng truyền tải, chưa cần mở rộng thêm.

Tuy nhiên, sau năm 2035 cần xây thêm 2 hệ thống đường dây truyền tải điện một chiều, theo hướng truyền tải Trung – Bắc và Nam – Bắc, mỗi hệ thống có công suất khoảng 10 GW.

Ước tính số vốn đầu tư nguồn, lưới điện ở kịch bản cao phục vụ điều hành giai đoạn 2021 – 2030 là 146,5 tỷ USD, tức 14,7 tỷ USD một năm. Còn vốn đầu tư nguồn, lưới điện 2031-2045 cho kịch bản phụ tải cao phục vụ điều hành gần 346 tỷ USD, tương đương 23,1 tỷ USD mỗi năm…

(Theo vnexpress.net)

Tập đoàn điện lực Singapore cam kết đầu tư 12.000 tỉ đồng vào Việt Nam đến 2025

TTO – Trong cuộc trả lời báo chí ngày 11-5 tại TP.HCM, Tập đoàn điện lực SP Group (Singapore) cam kết đầu tư 750 triệu SGD, tương đương 12.000 tỉ đồng, vào các giải pháp năng lượng bền vững tại Việt Nam cho đến năm 2025.

Công ty CJ Vina Agri hợp tác với SP Group lắp đặt và vận hành hệ thống năng lượng mặt trời áp mái – Ảnh: SP GROUP

Ông Stanley Huang – giám đốc điều hành Tập đoàn SP Group – khẳng định cam kết hỗ trợ Việt Nam đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

“Việt Nam là một thị trường quan trọng đối với SP Group. Chúng tôi cảm thấy được khích lệ bởi định hướng rõ ràng của Chính phủ Việt Nam trong 10 – 20 năm tới”, ông Huang nói với báo giới.

Theo giám đốc điều hành của SP Group, tập đoàn dự định hỗ trợ nỗ lực của Việt Nam thông qua các giải pháp năng lượng bền vững tại các thành phố, quận, thị xã, cũng như khách hàng trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp.

Cụ thể, SP Group đặt mục tiêu đạt 1,5 GW về quy mô tiện ích và các dự án năng lượng mặt trời áp mái tính đến năm 2025. Trong đó, các công ty con thuộc quyền sở hữu của SP Group cam kết phát triển danh mục năng lượng tái tạo tại Việt Nam đạt mức 1.000 MW vào năm 2025.

Thừa nhận còn một thời gian rất ngắn trước cột mốc trên, tức chỉ khoảng 2,5 năm, nhưng ông Huang khẳng định đây là mục tiêu hoàn toàn khả thi.

“Nói một cách nghiêm túc, chúng tôi nghĩ nhu cầu điện năng lượng mặt trời áp mái sẽ còn tăng, ít nhất tăng trưởng với cùng tốc độ của GDP, tức tối thiểu khoảng 6 – 7%/năm. Chính vì vậy, tôi cho rằng để đạt mục tiêu 1.000 MW vào năm 2025 hoàn toàn khả thi”, ông Huang nói.

Ông Brandon Chia – giám đốc khu vực Đông Nam Á và Úc, Giải pháp năng lượng bền vững, SP Group – cho biết 750 triệu SGD là con số ước tính ban đầu để phục vụ các mục tiêu trên của công ty cho đến năm 2025.

“Tuy nhiên sau năm 2025, tham vọng của chúng tôi có thể lớn hơn nữa và tăng trưởng cùng thị trường”, ông Chia nói, đồng thời lưu ý “con số đầu tư sau đó có thể tăng lên” vì SP muốn gắn bó với thị trường Việt Nam trong dài hạn.

Sử dụng năng lượng hiệu quả

Để hỗ trợ Việt Nam tốt hơn trong việc giảm phát thải ròng, ông Huang cho rằng hệ thống làm mát khu vực (district cooling) sẽ là giải pháp hiệu quả.

Hệ thống làm mát khu vực là hệ thống làm mát các cụm tòa nhà được kết nối bằng mạng đường ống với một hoặc nhiều nhà máy làm mát tầm trung. Theo SP Group, mô hình này đã giúp khu vực Marina Bay của Singapore tiết kiệm 30% năng lượng và giảm 20.000 tấn phát thải carbon mỗi năm, tương đương với việc giảm hoạt động của 18.000 ôtô.

SP Group đang tìm kiếm một dự án mang tính biểu tượng ở Việt Nam để làm bệ phóng cho dịch vụ công ty cung cấp.

“Nếu chúng tôi có mặt ở đây sớm hơn, chúng tôi có thể hợp tác với tòa nhà Landmark 81 để áp dụng hệ thống làm mát khu vực”, ông Huang nói.

Ngoài ra, vị giám đốc điều hành này khẳng định việc quản lý nhu cầu cũng quan trọng như quản lý nguồn cung trong mục tiêu giảm phát thải ròng.

“Chúng ta thường tập trung quản lý về nguồn cung, nhưng tôi cho rằng việc quản lý nhu cầu cũng rất quan trọng. Chúng ta phải làm sao khuyến khích áp dụng các giải pháp công nghệ để giảm lượng cầu, đồng thời gia tăng tính hiệu quả trong sử dụng năng lượng”, ông nói.

SP Group là công ty vận hành lưới điện quốc gia của Singapore, một công ty điện lực hàng đầu ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tập đoàn này bước vào thị trường Việt Nam từ tháng 2-2021 với tên gọi SP Energy Vietnam.

Cuối tháng 3 vừa qua, Tổng công ty Điện lực TP.HCM đã có buổi làm việc với đại diện SP Group để hợp tác triển khai lưới điện thông minh tại TP.HCM.

Hiện SP Group đã trở thành đối tác của Công ty năng lượng BCG Energy (thuộc BCG Group) và CJ ONS, công ty thành viên của CJ OliveNetworks (Hàn Quốc) tại Việt Nam…

(Theo tuoitre.vn)

NVRC thuê mái nhà xưởng lắp điện mặt trời mái nhà

Sau giai đoạn ”FIT 2”, không chỉ hộ gia đình mà ngay cả một số doanh nghiệp cũng e ngại khi nói đến đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhà (ĐMTMN/Solar). Có lẽ nguyên nhân là trong giai đoạn bùng nổ ĐMTMN, cách làm ở một số nơi chưa đúng, thông tin chưa chuẩn xác cùng hệ lụy của nó đã làm cho mọi người có cái nhìn không thiện cảm với ĐMTMN.

Tuy nhiên, với kinh nghiệm nhiều năm làm trong ngành điện cũng như đã trực tiếp tham gia phát triển hệ thống ĐMTMN từ giai đoạn “FIT1” đến nay, chúng tôi nhận thấy những ưu thế nổi bật của “Điện mặt trời mái nhà” (Solar) mà không thể phủ nhận được, cụ thể như:

– Đầu tư để sử dụng: Với nhu cầu sử dụng điện của mình, nếu có sự tính toán hợp lý, đầu tư bài bản thì hộ gia đình/doanh nghiệp hoàn toàn sử dụng ĐMTMN hiệu quả mà không cần quan tâm đến “FIT3”, “FIT4”..vv. giảm được chi phí mua điện từ EVN với xu hướng giá điện tăng theo thời gian.

– Nếu doanh nghiệp không đầu tư: thì có thể cho thuê mái, hoặc mua lại điện của NVRC đầu tư với giá điện rẻ hơn EVN từ 15%-30% trong suốt vòng đời dự án khoảng 20 năm. Đây là một khoản lợi nhuận rất lớn đang chờ doanh nghiệp khai thác, không nên bỏ qua.

– Khi sử dụng năng lượng sạch từ ĐMTMN: Mái nhà xưởng sẽ mát hơn, làm giảm chi phí tiền điện cho hệ thống làm mát nhà xưởng; sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được dán nhãn “xanh” thuận lợi cho xuất khẩu sang các nước phát triển

– EVN sẽ được lợi: vì không phải đầu tư nguồn điện, đầu tư phát triển lưới điện và đặc biệt là giảm tổn thất điện năng trong việc truyền tải điện đến hộ tiêu thụ.

———————————————————————————

Hiện nay, NVRC cùng với các đối tác của mình đang tìm kiếm mái nhà xưởng nhàn rỗi để đầu tư hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhà và bán lại cho doanh nghiệp với các ưu đãi như sau:

– Chủ nhà xưởng không phải bỏ vốn đầu tư hệ thống ĐMTMN/Solar.

– Chủ nhà xưởng được nhận tiền thuê mái hoặc mua lại điện với giá giảm từ 15%-30% so với giá điện của EVN trong suốt thời hạn hợp đồng (20 năm).

– Trong thời gian thực hiện hợp đồng, chủ nhà xưởng có thể đàm phán mua lại hệ thống ĐMTMN với giá hợp lý.

– Sau 20 năm, Chủ nhà xưởng có thể mua lại hệ thống ĐMTMN với giá 01 VNĐ để tiếp tục sử dụng hoặc NVRC sẽ thu hồi thiết bị và hoàn trả lại mái nhà xưởng như cũ.

Hãy liên hệ Hotline: 03329.037.04; Email: cskh@nguonlucnamviet.com để được tư vấn, hỗ trợ và hướng dẫn chi tiết hơn.

Trời chớm nóng đã lo thiếu điện

TTO – Nguy cơ thiếu điện từ mùa khô năm nay đã được Tập đoàn Điện lực VN (EVN) cảnh báo khi nhu cầu tiêu dùng điện tăng lại do nền kinh tế trên đà phục hồi. Trong khi đó, than lại thiếu khiến nhiều tổ máy nhiệt điện phải giảm công suất.

Phía Bắc có nguy cơ thiếu điện do nhu cầu điện tăng cao hơn bình quân cả nước – Ảnh: THANH HƯƠNG
Từ chỗ “thừa điện”, ngành điện nhanh chóng phải đối mặt với nguy cơ thiếu điện. Sản lượng điện thương phẩm của EVN trong 3 tháng đầu năm đạt 54,78 tỉ kWh, tăng tới 7,8%. Nhu cầu tiêu dùng điện dự kiến tiếp tục tăng mạnh trong các tháng tới.
Thiếu than, nhiều tổ máy dừng hoạt động

Điều đáng nói là đến nay công suất đặt trên toàn hệ thống đã đạt tới 77.000MW, trong khi theo ông Nguyễn Quốc Trung – phó giám đốc Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (A0), công suất phát thực tế nhiều thời điểm chỉ duy trì được khoảng 43.000MW bởi cùng với vận hành thì các nhà máy cũng cần sửa chữa, bảo dưỡng.

Công suất năng lượng tái tạo khá lớn nhưng tính ổn định không cao. Như điện mặt trời không thể phát được vào buổi tối. Điện gió đã vào hệ thống tới 4.000MW nhưng phụ thuộc gió, có thời điểm chỉ đóng góp được 350 – 400MW. Chưa kể việc nghẽn mạch truyền tải, nhất là từ miền Trung ra miền Bắc chỉ truyền tải được khoảng 2.000MW.

Lãnh đạo A0 dự báo việc đảm bảo cung cấp điện, đặc biệt vào mùa khô, tương đối khó khăn và có thể thiếu tới 2.000 – 3.000MW (thủy điện Hòa Bình nổi tiếng có tổng công suất lắp đặt cũng chỉ 1.920MW).

Lo ngại về nguy cơ thiếu điện được EVN đặt ra từ đầu tháng 3 khi tình hình cấp than cho điện không đảm bảo.

Theo tập đoàn này, riêng trong quý 1-2022 than được cấp cho các nhà máy nhiệt điện thiếu hụt tới 1,36 triệu tấn so với lượng đã ký trong hợp đồng. Vì vậy, đến cuối tháng 3-2022 nhiều tổ máy nhiệt điện than phải dừng hoạt động và giảm công suất phát, khiến nguồn nhiệt điện than được huy động thấp hơn kế hoạch tới trên 1,3 tỉ kWh.

Trả lời Tuổi Trẻ, đại diện của Tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) cho hay tiêu thụ than cho điện 3 tháng đầu năm đạt trên 8 triệu tấn, giảm so với bình quân kế hoạch quý 0,8 triệu tấn – tương đương với nguồn than nhập khẩu thiếu hụt.

Nguyên nhân thiếu than là do một số nhà máy điện chưa ký hợp đồng ngay với TKV, chậm thống nhất giá than pha trộn nhập khẩu, dẫn tới kế hoạch nhập khẩu của TKV đã không thực hiện được.

Để “trấn an”, đại diện TKV cho hay đã huy động nhân lực động viên cán bộ, công nhân toàn ngành làm thêm ca thêm kíp, cộng với các giải pháp điều hành để khai thác tối đa than nhằm bù đắp một phần than nhập khẩu bị thiếu hụt, giá tăng.

Dù vậy, theo một số chuyên gia, những giải pháp được TKV đưa ra vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro khi đến nay nguồn than nhập khẩu để sử dụng cho nhiều nhà máy nhiệt điện vẫn chưa thực sự được đảm bảo.

Sẽ tăng nhập khẩu điện từ Lào, Trung Quốc

Theo tài liệu của Tuổi Trẻ, trong báo cáo của EVN gửi Thủ tướng về khả năng cung ứng điện toàn quốc giai đoạn 2022 – 2025, EVN xác nhận việc đảm bảo cung ứng điện trong thời gian tới sẽ gặp nhiều khó khăn.

Cụ thể với miền Bắc, nhu cầu điện chiếm gần 50% toàn quốc và dự báo tăng trưởng cao hơn bình quân cả nước, nhưng các nguồn điện mới dự kiến hoàn thành hằng năm giai đoạn 2022 – 2025 luôn thấp hơn so với tăng trưởng nhu cầu điện.

Vì vậy có thể xảy ra thiếu hụt công suất vào giờ cao điểm từ tháng 5 đến tháng 7 năm nay, khi cuối mùa khô công suất khả dụng các nhà máy thủy điện bị suy giảm.

Với khu vực miền Trung và miền Nam, EVN cho hay cơ bản đáp ứng cung ứng điện trong cả giai đoạn 2022 – 2025, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn khó khăn trong trường hợp nhu cầu điện tăng theo kịch bản cao và/hoặc các nguồn điện lớn bị chậm tiến độ.

Theo EVN, để đảm bảo cung cấp điện, tập đoàn này sẽ chỉ đạo A0 xây dựng phương thức để điều độ, tạm hoãn sửa chữa một số tổ máy thủy điện; thông báo kế hoạch huy động cập nhật để chủ đầu tư các nhà máy nhiệt điện than kịp thời thu xếp nguồn than.

Đặc biệt, theo EVN, sẽ tập trung đầu tư các công trình lưới điện để tăng nhập khẩu điện từ Lào và đàm phán tiếp tục mua điện Trung Quốc từ tháng 5-2022 qua các liên kết hiện hữu với công suất 550MW.

Tuy nhiên, EVN cũng đề nghị cần đảm bảo cấp than cho điện, trong đó có tìm nguồn than nhập từ Úc và Nam Phi; đề nghị Bộ Công thương chỉ đạo đưa thêm 3.700MW công suất các nguồn điện, kể cả các nguồn điện năng lượng tái tạo chưa có cơ chế giá (1.300MW) đi vào vận hành.

EVN kiến nghị Thủ tướng sớm có cơ chế khuyến khích phát triển các nguồn điện mặt trời mái nhà tại miền Bắc với mục đích tự tiêu thụ cho nhu cầu phụ tải tại chỗ (không bán lên lưới).

Dữ liệu: N.AN – Đồ họa: N.KH.
1,36 triệu tấn

Đó là lượng than thiếu hụt cho các nhà máy nhiệt điện so với khối lượng đã ký trong hợp đồng trong quý 1-2022.

Nguồn: EVN

Kiến nghị mua điện gió từ Lào

Trong văn bản gửi Bộ Công thương về giá điện và hợp đồng mua bán điện với Nhà máy điện gió Monsoon, nhập khẩu điện từ Lào về Việt Nam, EVN kiến nghị mua điện từ nhà máy này với mức giá trần tối đa là 6,95 cent/kWh, thời hạn mua bán điện là 25 năm kể từ ngày vận hành thương mại.

Phản hồi kiến nghị này, Bộ Công thương cho hay không phê duyệt giá bán điện các dự án điện nhập khẩu từ nước ngoài. Vì vậy việc đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán điện với các dự án nhập khẩu từ nước ngoài do EVN chịu trách nhiệm tuân thủ các văn bản quy định.

Trong đó, Bộ Công thương lưu ý EVN rà soát đảm bảo không làm trái quy định. Với việc hoàn thiện đường dây đấu nối, EVN đề nghị phối hợp các bộ ngành liên quan thực hiện thủ tục, đảm bảo đúng tiến độ.
Kêu gọi tiết kiệm để vượt qua mùa khô 2022

Theo EVN, để đảm bảo cung cấp điện theo các phương án tăng trưởng nhu cầu điện, yêu cầu là phải cấp đủ than cho điện. Nếu than không được cấp đủ thì sẽ phải huy động các nguồn điện chạy dầu giá cao, tương ứng từ 535 triệu kWh đến khoảng 2,5 tỉ kWh tùy mức tăng nhu cầu điện.

Tuy nhiên, miền Bắc tiềm ẩn rủi ro thiếu công suất đỉnh trong các ngày nắng nóng với khả năng thiếu hụt từ 1.300 – 2.500MW.

Theo ông Nguyễn Tài Anh – phó tổng giám đốc EVN, tập đoàn này đã thực hiện nghiêm túc theo chỉ đạo của Chính phủ trong vận hành cung ứng điện.

“Chúng ta thực ra thiếu điện rất ít, thời gian rất ngắn… Tới đây, với các giải pháp điều tiết phụ tải cùng với việc người dân có ý thức tiết kiệm điện… thì sẽ vượt qua được mùa khô 2022. EVN cũng kêu gọi người dân và các khách hàng sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả” – ông Tài Anh nói.

(Theo tuoitre.vn)

Một quy hoạch họp tới hàng chục cuộc, nhiều địa phương vẫn muốn ‘bùng nổ’ điện mặt trời

TTO – Trước đề nghị của các địa phương về việc tăng thêm nguồn điện mặt trời vào Quy hoạch điện 8 đang xây dựng, Phó thủ tướng Lê Văn Thành cho rằng cần đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết.
Ngày 15-4, Phó thủ tướng Lê Văn Thành chủ trì hội nghị trực tuyến với các địa phương về hoàn thiện Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quy hoạch điện 8).

Phó thủ tướng Lê Văn Thành chủ trì cuộc họp Quy hoạch điện 8 – Ảnh: VGP
Cho rằng đây là quy hoạch khó, vì phải giải bài toán tổng hợp các yếu tố: đặt nguồn điện ở đâu, vừa phải bảo đảm phụ tải, bảo đảm giá thành hợp lý, đồng thời phải thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26 “đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050”. Do vậy, suốt 1 năm qua, Phó thủ tướng đã chủ trì hàng chục cuộc họp để hoàn thiện quy hoạch.

Đáng lưu ý là nhu cầu đăng ký rất lớn, đến năm 2030 khoảng gần 520.000 MW, gấp khoảng 3,5 lần dự kiến tổng công suất đặt, nên không thể đáp ứng yêu cầu lớn như vậy.

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên thì cho rằng cần tính đến bài toán kinh tế trên phạm vi cả nước chứ không chỉ vùng, địa phương. Vì vậy, cách tiếp cận của Bộ Công thương theo phương pháp tổng thể, vừa xuất phát từ địa phương, vừa cân đối toàn hệ thống, vùng miền, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân, nhà đầu tư.

Vì vậy, bộ trưởng mong muốn các địa phương chia sẻ cái khó với bộ, với Chính phủ vì phải vẽ bức tranh trên nền cũ. “Chỉ có phương án tối ưu chứ không có phương án hoàn hảo”.

Thứ trưởng Bộ Công thương Đặng Hoàng An cho biết thêm là so với các phương án trước đây, dự thảo lần này đã giảm triệt để phát thải khí CO2 do không phát triển các nhà máy nhiệt điện than và thực hiện chuyển đổi nhiên liệu từ than sang biomass và amoniac, từ khí tự nhiên, LNG sang hydrogen.

Nêu quan điểm giữ nguyên tỉ trọng nguồn mặt trời ở mức hợp lý, Phó thủ tướng nói nhu cầu điện của nền kinh tế cao nhất không phải vào lúc có mặt trời mà vào khoảng 18h-22h tối, nên nếu không có các nguồn điện khác như thủy điện, nhiệt điện thì không thể đáp ứng được. Trong khi ban ngày, phát điện mặt trời thì các nguồn điện khác phải giảm công suất. Nếu tích điện mặt trời để phát vào ban đêm thì giá thành tăng gấp 3-4 lần.

Do vậy, trước đề nghị của các địa phương về việc bổ sung vào quy hoạch nguồn điện mặt trời, Phó thủ tướng khẳng định cần “đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết”. Mỗi địa phương phải xác định phát triển cho địa phương phải đồng thời phát triển cho đất nước, vì lợi ích nhân dân, “nếu phát triển điện cho địa phương nhưng phải vận chuyển điện đi xa thì giá thành sẽ cao, khi đó người dân lại phải gánh mức giá cao này”.

Phó thủ tướng yêu cầu Bộ Công thương khẩn trương tiếp thu tối đa các ý kiến dựa trên nguyên tắc chung, hoàn thiện dự thảo Quy hoạch điện 8 để thông qua Hội đồng thẩm định quốc gia, trước khi trình Thủ tướng xem xét, phê duyệt trong tháng 4-2022.
Cắt giảm mạnh mẽ điện than, thay bằng điện gió, điện khí

Theo dự thảo, tổng quy mô công suất nguồn điện dự kiến phát triển đến năm 2030 khoảng 146.000 MW, giảm khoảng 35.000 MW so với dự thảo trước. Công suất cực đại dự kiến vào năm 2030 vào khoảng 93.000 MW.

Do vậy, quy mô đầu tư theo quy hoạch giảm gần 2 triệu tỉ đồng, trong đó giảm đầu tư công suất nguồn khoảng 35.000 MW, giảm đầu tư hệ thống truyền tải gần 300.000 tỉ đồng. Nguồn điện được bố trí hài hòa, đảm bảo phát huy lợi thế từng vùng miền, tiết kiệm tối đa truyền dẫn.

Quy hoạch cũng đã đề ra lộ trình cắt giảm điện than mạnh mẽ để chuyển đổi, thay thế bằng các nguồn năng lượng sạch, đặc biệt là điện gió và điện khí. Đến năm 2045, toàn hệ thống chỉ còn 9,6% điện than, trong khi điện gió, điện mặt trời chiếm 50,7%, đảm bảo các cam kết về chuyển đổi năng lượng, bảo vệ môi trường.

(Theo tuoitre.vn)